Sách này chia sẻ mục đích hỗ trợ người đọc cá nhân chưa có điều kiện mua sách giấy, hoàn toàn miễn phí và phi lợi nhuận. Sách được sưu tầm nhiều nguồn khác nhau mọi bản quyền thuộc về Tác Giả & Nhà Xuất Bản!

Giới thiệu & trích đoạn ebook

Giới thiệu giáo trình ” Phân Loại Học Thực Vật “

III – CÁC QUY TẮC PHÂN LOẠI HỌC

1. Đơn vị phân loại và các bậc phân loại

Đơn vị phân loại cơ sở của hệ thống tiến hóa là loài (species). Khái niệm về loài phát sinh từ thực tế quan sát sinh vật trong thiên nhiên, sự giống nhau và khác nhau giữa các cá thể. Có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về loài. Một trong những định nghĩa tương đối hoàn chỉnh là định nghĩa của Komarov (1949): “Loài là tập hợp của nhiều cá thể cùng xuất phát từ một tổ tiên chung, trải qua quá trình đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên mà cách ly với các sinh vật khác, đồng thời loài là 1 giai đoạn nhất định trong quá trình tiến hóa chung của sinh vật”. Trong định nghĩa của mình Komarov cũng đặc biệt nhấn mạnh đến đặc tính di truyền và sự phân bố của loài: “các cá thể trong cùng một loài có thể giao phối với nhau sinh ra các thế hệ con cái có khả năng sinh sản, mỗi loài có một khu phân bố riêng”.

Những loài có nhiều tính chất giống nhau, có tổ tiên chung, họp thành đơn vị lớn hơn gọi là chỉ (genus). Cũng theo nguyên tắc chung nhau về nguồn gốc, giống nhau về tính chất, chỉ hợp thành họ (familia), họ thành bộ (ordo), bộ thành lớp (classis), lớp thành ngành (divisio).

Đó là các bậc phân loại chính. Trong phân loại học đôi khi người ta còn dùng những bậc trung gian, như tông (tribus), là bậc giữa họ và chỉ, nhánh hay tổ (sectio) và loạt hay dãy (series) là bậc giữa chi và loài, thứ (varietas) và dạng (forma) là những bậc dưới loài.

Ngoài ra, khi cần còn có thể thêm các bậc phụ, được ghi bằng cách thêm các tiếp đầu ngữ “sub” (phân) để chỉ các bậc trung gian thấp hơn, hoặc “super” (liên) để chỉ các bậc trung gian cao hơn. Ví dụ: liên bộ (superordo), liên họ. (superfamilia), phân họ (subfamilia), phân loài (subspecies)…

Cũng cần chú ý rằng trong phân loại học người ta còn hay dùng thuật ngữ taxon. Vậy taxon và bậc phân loại có gì khác nhau ?

Đây là 2 khái niệm không hoàn toàn đồng nhất. Taxon là một nhóm cá thể thuộc bất kỳ một mức độ nào của thang chia bậc. Nói cách khác taxon là “nhóm sinh vật có thật được chấp nhận làm đơn vị phân loại ở bất kỳ mức độ nào”. Như vậy khái niệm taxon luôn bao hàm ý về những đối tượng cụ thể. Còn bậc phân loại là một tập hợp các taxon ở một mức nhất định trong thang chia bậc đó. Ví dụ: loài nói chung – đó là một bậc của bậc phân loại, nhưng một loài cụ thể như lúa (Oryza sativa L.) lại là một taxon.

Như vậy bậc của bậc phân loại xác định vị trí của nó trong loạt bậc nối tiếp nhau (loài, chi, họ, bộ…), còn bậc của taxon là bậc phân loại nào đó mà nó là một thành viên (Takhtajan 1966).

2. Cách gọi tên các bậc phân loại

Trước đây mỗi nhà thực vật gọi tên cây một cách khác nhau, hoặc tên địa phương, hoặc đặc điểm hình thái. Đến năm 1753 Linnée đề ra cách đặt tên loài cây bằng 2 từ La tinh ghép lại (gọi là danh pháp “lưỡng nôm”) và được sử dụng cho đến nay. Từ đầu là một danh từ, chỉ tên chỉ, luôn luôn viết hoa, từ sau là một tính từ chỉ loài, không viết hoa. Tính từ này có thể biểu thị tính chất của cây (như glabra: nhẫn; pilosa: có lông, spinosa : có gai…), nơi mọc (sylvestris: ở rừng, palustris: ở đầm lầy…) nơi xuất xứ (tonkinensis: Bắc Bộ, annamensis: Trung Bộ, cochinchinensis: Nam Bộ, chinensis: Trung Quốc…), công dụng của cây (textilis: lấy sợi, tinctorius: nhuộm…), mùa hoa nở (vernalis mùa xuân, autumnalis: mùa thu…) hay chỉ tên người (lecomtei, pierrei, takhtajanii….).

Sau tên loài, người ta thường viết tất hay nguyên họ tác giả đã công bố tên đó đầu tiên. Ví dụ: Oryza sativa L.. là tên cây lúa (thuộc chỉ Oryza), loài lúa thuộc dạng cây trồng (sativa), 1.. là chữ viết tất họ của Ông Linnée.

Đó là tên loài và tên chỉ: đối với tên họ, người ta lấy tên của chỉ điển hình (typus) của họ, thêm đuôi aceae vào. Ví dụ: Rosaceae (họ Hoa Hồng): lấy từ chỉ Rosa. Rutaceae (ho Cam) lấy từ chi Ruta.

Tên bộ cũng theo nguyên tắc lấy họ “điển hình” đổi đuôi aceae thành ales. Ví dụ: Rosales, Rutales…

Tên lớp và ngành hiện nay chưa thống nhất quy tắc gọi. Một số tác giả có khuynh hướng theo nguyên tắc “điển hình” để gọi, tên lớp thường có đuôi atue hoặc opsida, tên ngành có đuôi – phyta. Ví dụ:

– Lớp Dương xỉ : Polypodiopsida

– Lớp Ngọc lan : Magnoliatae hay Magnoliopsida

– Ngành Ngọc lan (hay ngành Hạt kín): Magnoliophyta (ngành Hạt kín còn có tên khác là Angiospermatophyta)

IV – CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI

Các phương pháp phân loại đều dựa trên nguyên tắc sau: những thực vật có chung nguồn gốc thì có những tính chất giống nhau. Thực vật càng gần nhau chừng nào thì tính chất giống nhau càng nhiều chừng ấy. Sự giống nhau có thể về đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý sinh hóa, phôi sinh học… Do đó có nhiều phương pháp phân loại khác nhau.

1. Phương pháp hình thái so sánh: Dựa vào đặc điểm hình thái, nhất là hình thái cơ quan sinh sản. Những thực vật càng gần nhau thì càng có nhiều đặc điểm hình thái giống nhau. Hiện nay, ngoài những đặc điểm hình thái bên ngoài, người ta còn dùng cả những đặc điểm vi hình thái (micromorphologie), tức là hình thái cấu trúc của tế bào, của mô, kể cả cấu trúc siêu hiến vì, để phân loại. Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu.

2. Phương pháp cổ thực vật học: Dựa vào các mẫu hóa đá của thực vật để tìm quan hệ thân thuộc và nguồn gốc của các nhóm mà các khâu trung gian hiện nay không còn nữa.

Donate Ủng hộ chúng tớ 1 ly cafe

Nhằm duy trì website tồn tại lâu dài và phát triển, nếu bạn yêu thích Taiebooks.com có thể ủng hộ chúng tớ 1 ly cafe để thêm động lực nha.

Bạn cần biết thêm lý do để ủng hộ Taiebooks.com ?

  • Website cần duy trì tên miền, máy chủ lưu trữ dữ liệu tải ebook và đọc online miễn phí.
  • Đơn giản bạn là một người yêu mến sách & Taiebooks.com.

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x